Từ sự sụp đổ của Liên Xô đến số phận của Putin, điều gì khác biệt? (Phần II)

Bài học về sự sụp đổ của Liên Xô

Vladislav Zubok – (Foreign Affairs) Tháng 7 / tháng 8 năm 2022

(Phần II)

S thay đi trọng tâm ni bt đối với người Nga. 

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, người Nga với danh nghĩa Liên Xô tham dự hầu hết trong cuộc chiến, nhiều người phương Tây lại xem đế chế cộng sản chỉ là phần mở rộng của nước Nga. Nhưng trong những năm 1990–91, chủ yếu là hàng chục triệu người Nga, dẫn đầu là Boris Yeltsin, đã phá vỡ nhà nước Xô Viết. Họ là một nhóm người theo chủ nghĩa trung dung, bao gồm những trí thức có tư tưởng tự do từ Moscow, các bộ máy cai trị cấp tỉnh của Nga, và thậm chí cả KGB và các sĩ quan quân đội. Điều gắn kết chung của họ là việc từ chối Gorbachev và sự điều hành thất bại của ông ta. Chính sự yếu kém của nhà lãnh đạo Liên Xô Gorbachev đã dẫn đến một cuộc đảo chính vào tháng 8 năm 1991. Những người tổ chức đã quản thúc Gorbachev tại gia và gửi xe tăng tới Moscow với hy vọng người dân phải khuất phục, nhưng họ đã thất bại trên cả hai mặt trận. Họ đã do dự sử dụng vũ lực tàn bạo và đã truyền cảm hứng cho các cuộc biểu tình phản đối sự kiểm soát của Điện Kremlin. Tiếp theo là sự tự hủy hoại các cơ cấu quyền lực của Liên Xô. Yeltsin gạt Gorbachev sang một bên, cấm Đảng Cộng sản hoạt động, và hành động như một nhà cai trị có quyền hành . Vào ngày 8 tháng 12 năm 1991, Yeltsin và các nhà lãnh đạo của Belarus và Ukraine tuyên bố Liên Xô “không còn tồn tại như một chủ thể của luật pháp quốc tế và thực tế địa chính trị”.

Nếu không có tuyên bố của Yeltsin, Liên Xô vẫn có thể tiếp tục tồn tại. Ngay cả sau khi nó không còn hiện hữu chính thức, đế chế vẫn tiếp tục trong nhiều năm như một khu vực đồng rúp chung không có biên giới và phong tục tập quán. Các quốc gia hậu Xô Viết thiếu độc lập về tài chính. Ngay sau các cuộc trưng cầu dân ý tuyên bố độc lập cho quốc gia mình, tiếp theo là các lễ ăn mừng nền tự do mới, hàng chục triệu công dân Liên Xô cũ ngoài nước Nga đã phải mất hàng thập kỷ để có thể phát triển bản sắc của chính mình, để suy nghĩ và hành động như của chính các công dân Belarus, Ukraine và các quốc gia mới khác. Theo nghĩa này, Liên Xô tỏ ra kiên cường hơn là mỏng manh. Và nó đã không khác các đế chế khác ở chỗ phải mất nhiều thập kỷ để tan rã mà  không phải trong vài tháng.

PUTIN HỌC TỪ QUÁ KHỨ

Putin rất quen thuộc với quá khứ lịch sử này. Tổng thống Nga từng tuyên bố “sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết là thảm họa địa chính trị lớn nhất” của thế kỷ XX, và ông đã kiến trúc chế độ của mình để tránh số phận tương tự. Ông nhận ra rằng Marx và Lenin đã sai về kinh tế học, từ đó ông đã hăng hái tìm ra cách nước Nga có thể tồn tại và phát triển dưới chủ nghĩa tư bản toàn cầu. Ông đã chiêu mộ các nhà kinh tế có năng lực, ổn định kinh tế vĩ mô và cân đối ngân sách là những ưu tiên hàng đầu. Trong thập niên đầu tiên cầm quyền của mình, giá dầu tăng vọt đã lấp đầy kho bạc của Nga, ông ta đã nhanh chóng hoàn trả khoản nợ 130 tỷ USD mà Nga đã nợ các ngân hàng phương Tây. Ông giữ các khoản nợ trong tương lai ở mức tối thiểu, và chính phủ của ông bắt đầu tích lũy dự trữ bằng ngoại tệ và vàng.

Sau khi Putin sáp nhập Crimea vào Nga năm 2014, Hoa Kỳ đã áp đặt các lệnh trừng phạt đối với dầu mỏ và các ngành công nghiệp khác của Nga, và giá dầu đã giảm mạnh không kém gì dưới thời Gorbachev. Nhưng chính phủ Nga đã phản ứng một cách khéo léo. Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Ngân hàng Trung ương Elvira Nabiullina và Bộ trưởng Tài chính Anton Siluanov, chính phủ của ông đã cho phép phá giá đồng rúp, khôi phục sự ổn định kinh tế vĩ mô. Sau một thời gian giảm sút nhẹ, nền kinh tế Nga đã phục hồi trở lại. Ngay cả trong đại dịch COVID-19, quốc gia này vẫn duy trì kỷ luật tài khóa nghiêm ngặt. Trong khi các quốc gia phương Tây in hàng nghìn tỷ USD để trợ cấp cho nền kinh tế của họ, thì Nga lại thặng dư ngân sách. Dmitry Nekrasov, một nhà kinh tế nhà nước Nga trước đây, cho biết: “Các nhà kinh tế của chính phủ“ đã thánh thiện hơn Giáo hoàng trong việc áp dụng ”cách tiếp cận được ủng hộ bởi Quỹ Tiền tệ Quốc tế. “ Trong mười năm qua, không có quốc gia nào trên thế giới thực hiện một chính sách nhất quán, bảo thủ và cứng rắn như vậy dựa trên [một] mô hình kinh tế vĩ mô tự do.” Đến năm 2022, nhà nước của Putin đã tích lũy được hơn 600 tỷ USD dự trữ tài chính, một trong những kho dự trữ lớn nhất thế giới.

Nhưng đối với Putin, mục đích chính của việc hoạch định chính sách tài chính hợp lý này không phải là để kiếm được sự khen ngợi của quốc tế hay thậm chí là để giúp người Nga bình thường giữ được tiền tiết kiệm. Mục đích là để củng cố sức mạnh của ông ta. Putin đã sử dụng số tiền dự trữ tích lũy được để khôi phục hệ thống nhà nước độc tài, ông ta xây dựng đội ngũ an ninh, mở rộng công nghiệp vũ khí và quân sự của Nga, đồng thời chỉ định người đứng đầu Chechnya là Ramzan Kadyrov và lực lượng bán quân sự của ông này — tạo thành một trụ cột khác của chế độ độc tài Điện Kremlin.

Putin quyết tâm hành động đ tìm ra cách Nga có th phát trin dưới ch nghĩa tư bn toàn cu.

Khi Putin quyết định xâm lược Ukraine đầu năm nay, ông tin rằng nguồn dự trữ lớn của Nga sẽ cho phép nước này vượt qua bất kỳ lệnh trừng phạt nào từ phương Tây. Nhưng phản ứng tài chính của các nước Tây phương khắc nghiệt hơn nhiều so với điều ông nghĩ – ngay cả những người chống Nga cuồng nhiệt ở phương Tây cũng bị bất ngờ. Phương Tây và các đồng minh đã loại một số ngân hàng lớn của Nga khỏi SWIFT, một mạng lưới thanh toán quốc tế và đóng băng 400 tỷ USD dự trữ quốc tế của Nga vốn được lưu trữ ở các nước G-7. Washington và các đồng minh cũng ngăn chặn hàng loạt công ty sản xuất liên hệ với chính phủ Nga hoặc các doanh nghiệp Nga. Hơn 700 tập đoàn sản xuất và bán lẻ phương Tây đã tự động rời khỏi Nga do áp lực dư luận ở quê nhà. Các công ty tài chính và vận tải quốc tế lớn và các công ty trung gian đã ngừng hợp tác với các công ty có liên kết với Moscow. Sự tách rời này không giống bất cứ điều gì thế giới đã thấy kể từ cuộc phong tỏa Đức và Nhật Bản trong Thế chiến thứ hai.

Ở phương Tây, những hành động trừng phạt đã được đáp ứng với sự hưng phấn. Các chuyên gia tuyên bố đồng tiền Nga sẽ sụp đổ và sẽ có nhiều cuộc phản đối Nga rộng rãi. Một số người thậm chí còn suy đoán rằng Putin có thể bị lật đổ. Nhưng đã không có kịch bản nào xảy ra. Ban đầu, đồng rúp bị sụt giá, nhưng Nabiullina và Siluanov đã hành động nhanh để cứu nó. Nhà nước Nga đã cho ngưng chuyển đổi tự do đồng rúp và ra lệnh 80% doanh thu từ dầu mỏ của các công ty Nga và các nhà xuất khẩu khác (bao gồm cả doanh thu tính bằng đô la) phải được bán cho ngân hàng trung ương. Nó đã cấm công dân Nga chuyển ra nước ngoài hơn 10.000 đô la mỗi tháng, dẹp tan cơn sốt hoảng loạn chuyển đổi rúp sang đô la, và cuối cùng đồng tiền của Nga đã phục hồi trở lại mức trước khi xâm lược. Nếu Gorbachev được hỗ trợ bởi chuyên môn như vậy, Liên Xô có thể đã không tan rã.

Trong khi đó, các doanh nhân Nga đang học cách thích nghi với thực tế mới. Nhiều cánh cửa dẫn vào nền kinh tế quốc tế đã đóng lại, nhưng các doanh nhân của Nga – bao gồm cả những người điều hành ngành công nghiệp vũ khí của nước này – biết cách sử dụng cửa hậu (backdoor) để tìm những gì họ cần. Các doanh nghiệp Nga vẫn được tiếp cận hợp pháp với nhiều nền kinh tế lớn, bao gồm cả Trung Quốc và Ấn Độ, cả hai đều sẵn sàng làm ăn với Nga. Có rất ít lý do kinh tế để họ không làm như vậy: sức mạnh của đồng rúp khiến việc mua năng lượng và các vật liệu khác của Nga với giá giảm có lợi. Chính phủ Nga sau đó đánh thuế lợi nhuận và quy đổi chúng sang đồng rúp, tiếp tục duy trì khả năng thanh toán của đất nước. Do đó, trong ngắn hạn, các biện pháp trừng phạt khắc nghiệt của phương Tây khó có thể giết chết đồng rúp và buộc Điện Kremlin phải nhượng bộ.

PHÂN CHIA VÀ CHINH PHỤC

Các trừng phạt của phương Tây có thể không làm thay đổi tư duy của Moscow. Nhưng rõ ràng chúng đang gây tổn thương cho các thành phần dân cư của Nga: cụ thể là giới tinh hoa và tầng lớp trung lưu thành thị. Các chính phủ, trường đại học và các tổ chức khác trên thế giới đã hủy bỏ hàng ngàn dự án khoa học học thuật với các nhà nghiên cứu Nga. Các dịch vụ đan xen trong đời sống của nhiều người Nga cổ trắng (trí thức) — từ Facebook đến Netflix cho tới Zoom — đột nhiên không khả dụng. Người Nga không thể nâng cấp MacBook hoặc iPhone của họ. Việc xin thị thực nhập cảnh vào Vương quốc Anh hoặc Liên minh Âu châu đã trở nên vô cùng khó khăn, và ngay cả khi họ thành công, không có chuyến bay thẳng hoặc tàu hỏa nào có thể đưa họ đến đó. Họ không có thể sử dụng thẻ tín dụng ở nước ngoài hoặc thanh toán hàng hóa và dịch vụ nước ngoài. Đối với các công dân sống khắp thế giới, việc Nga xâm lược đã làm cho cuộc sống khá khó khăn.

Thoạt nhìn, điều này có vẻ là điềm xấu cho Putin. Trong cuộc khủng hoảng chính trị của Liên Xô 1990–91, tầng lớp trung lưu và thượng lưu đã đóng một vai trò to lớn trong việc dẫn đến sự sụp đổ của nhà nước. Hàng trăm nghìn người Liên Xô có học đã tập hợp tại các quảng trường chính của Moscow và St.Petersburg, yêu cầu thay đổi. Một tầng lớp tinh hoa mới của Nga, lớp người ủng hộ chủ nghĩa dân tộc và phản đối lực lượng bảo vệ cũ của Liên Xô, đã giành được quyền lực sau cuộc bầu cử năm 1990. Giới tri thức và trí thức của đất nước đã hợp tác với tầng lớp mới này để giúp đánh đổ đế chế.

Nhưng Gorbachev đã dung thứ  và khuyến khích hoạt động chính trị như vậy. Putin thì không. Không giống như Gorbachev đã cho phép các đối thủ tranh cử, Putin đã ngăn chặn bất kỳ người Nga nào nổi lên như những mối đe dọa nguy hiểm — gần đây nhất, ông ta đã đầu độc thủ lĩnh phe đối lập Alexei Navalny vào tháng 8 năm 2020 và sau đó đã bắt giam ông này một năm sau đó. Không còn có cuộc biểu tình phản đối cuộc chiến ở quy mô lớn nào (như Gorbachev từng cho phép) nhờ không nhỏ vào các dịch vụ an ninh tàn nhẫn của Nga. Những người phụ trách công an cảnh sát và mật vụ của Putin có quyền lực và các kỹ năng cần thiết để trấn áp bất kỳ cuộc biểu tình ngoài đường phố nào, gồm cả việc đe dọa, bắt giữ và các các hình phạt khác, chẳng hạn như phạt tiền. Nhà nước Nga ráo riết kiểm soát tâm não người dân của mình. Trong những ngày đầu tiên sau cuộc xâm lược, Cơ quan lập pháp Nga đã thông qua luật hình sự hóa bất cứ các cuộc thảo luận công khai và phổ biến thông tin về chiến tranh. Chính phủ buộc các hãng tin tức độc lập  phải đóng cửa.

Navalny trên màn hình trong một phiên tòa ở Moscow, tháng 5 năm 2022

Evgenia Novozhenina / Reuters

Nhưng đây chỉ là những công cụ dễ thấy nhất trong hệ thống kiểm soát của Putin. Giống như nhiều nhà độc tài khác, Tổng thống Nga đã học cách khai thác bất bình đẳng kinh tế để thiết lập cơ sở hỗ trợ vững chắc, dựa vào sự khác biệt giữa cái mà học giả người Nga Natalya Zubarevich gọi là “bốn loại người Nga”. Loại người Nga đầu tiên bao gồm ở các đô thị, các thành phố lớn, nhiều người trong số họ làm việc trong nền kinh tế hậu công nghiệp và có mối liên hệ văn hóa với phương Tây, họ là nguồn gốc của hầu hết sự phản đối Putin, họ đã tổ chức các cuộc biểu tình chống lại ông trước đây. Nhưng họ chỉ chiếm 1/5 dân số, theo ước tính của Zubarevich. Ba loại người còn lại là: (1) cư dân của các thành phố công nghiệp nghèo hơn, là những người hoài niệm về quá khứ Liên Xô; (2) những người sống ở các thị trấn nông thôn đang xuống dốc; và (3) những người đa sắc tộc không phải người Nga ở Bắc Caucasus (bao gồm Chechnya) và nam Siberia. Cư dân của ba loại người Nga đó hoàn toàn ủng hộ Putin; họ phụ thuộc vào trợ cấp từ nhà nước, họ tuân thủ các giá trị truyền thống khi nói đến thứ bậc, tôn giáo và thế giới quan – những vị trí văn hóa mà Putin đã là nhà vô địch về sự tuyên truyền chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa dân tộc của Điện Kremlin, nay đã trở nên quá đà kể từ khi cuộc xâm lược Ukraine bắt đầu.

Putin, do đó, không cần phải đàn áp rộng lớn để giữ sự lãnh đạo của ông ta. Thật vậy, nhận ra sự vô ích của việc chống lại nhà nước, nhiều thành viên loại người Nga đầu tiên thực sự chán ngấy Putin chỉ bằng cách đơn giản chạy trốn khỏi đất nước – một sự phát triển mà Putin công khai ủng hộ. Ông đã tuyên bố sự ra đi của họ là “một sự tự thanh lọc tự nhiên và cần thiết của xã hội [Nga]” của “cột thứ năm” thân phương Tây. Và cho đến nay, cuộc xâm lược hầu như không làm xói mòn sự ủng hộ của ông ta trong số ba loại người Nga khác. Hầu hết các thành viên của những nhóm này không cảm thấy bị  kết nối với nền kinh tế toàn cầu và do đó họ tương đối không bị phương Tây trừng phạt thông qua các lệnh cấm vận. Để duy trì sự ủng hộ của các nhóm này, Putin có thể tiếp tục trợ cấp cho một số khu vực và rót hàng tỷ USD vào các dự án xây dựng và cơ sở hạ tầng ở những khu vực khác.

Ông cũng có thể lôi cuốn những tình cảm bảo thủ và hoài cổ của họ – điều mà Gorbachev không bao giờ có thể làm được. Lịch sử đầy biến động của Nga đã khiến hầu hết người dân nước này muốn có một nhà lãnh đạo mạnh mẽ để củng cố đất nước – mà không phải là dân chủ, dân quyền và quyền tự quyết của quốc gia. Gorbachev, không phải là người mạnh mẽ. Nhà lãnh đạo Liên Xô này thúc đẩy bởi một tầm nhìn lý tưởng phi thường và từ chối sử dụng vũ lực để duy trì đế chế của mình. Ông đã huy động những nhóm tiến bộ nhất của xã hội Nga, trên hết là giới trí thức và các chuyên gia đô thị, để giúp ông kéo Liên Xô thoát khỏi sự cô lập, trì trệ và sự bảo thủ cứng ngắt. Nhưng khi làm như vậy, ông đã đánh mất sự ủng hộ của phần còn lại của nước Nga và ông buộc phải rời nhiệm sở, để lại hậu quả là khủng hoảng kinh tế, tình trạng vô chính phủ, hỗn loạn và ly khai. Tuổi thọ của người Nga giảm từ 69 tuổi năm 1990 xuống còn 64,5 tuổi năm 1994; đối với nam giới, giảm từ 64 tuổi xuống 58 tuổi. Dân số Nga giảm, và đất nước này phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực. Không có gì lạ khi rất nhiều người Nga muốn có một người đàn ông mạnh mẽ như Putin, người đã hứa sẽ bảo vệ họ khỏi một thế giới thù địch và khôi phục đế chế Nga. Trong những tuần sau khi xâm lược Ukraine, phản ứng mạnh mẽ của người dân Nga là tập hợp xung quanh một “sa hoàng” và không buộc tội ông ta về hành vi xâm lược vô cớ.

CHỊU ÁP LỰC

Không điều nào nói trên là điềm báo tốt cho người phương Tây muốn hệ thống của Putin sụp đổ — hoặc những người Ukraine đang chiến đấu đánh bại bộ máy quân sự của Nga. Nhưng mặc dù sự sụp đổ của Liên Xô có thể không đưa ra một cái nhìn trước về quỹ đạo của Nga, nhưng điều đó không có nghĩa là hành động của phương Tây sẽ không ảnh hưởng đến tương lai của nước này. Các nhà kinh tế học phương Tây và người Nga nhiều kiến thức đều đồng ý về lâu dài, các lệnh trừng phạt sẽ khiến nền kinh tế Nga thu hẹp khi chuỗi cung ứng bị gián đoạn ngày càng gia tăng. Các ngành giao thông vận tải và thông tin liên lạc của nước này đặc biệt dễ bị tổn thương. Máy bay hành khách, tàu hỏa cao tốc và hầu hết xe hơi của Nga được sản xuất ở phương Tây, và chúng hiện đã bị cắt rời khỏi các công ty biết cách tu sửa và bảo trì chúng. Ngay cả số liệu thống kê chính thức của chính phủ cũng cho thấy việc lắp ráp xe mới ở Nga đã giảm mạnh – ít nhất một phần là do Nga bị cắt đứt khỏi các bộ phận sản xuất ở nước ngoài. Cho đến thời điểm hiện tại, công nghiệp-quân sự của Nga có thể tiếp tục phát triển mà không bị cản trở gì nhưng cuối cùng nó cũng sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt. Trong quá khứ, các công ty phương Tây vẫn tiếp tục cung cấp phụ tùng cho các nhà sản xuất vũ khí của Nga, kể cả sau khi nước này sáp nhập Crimea. Giờ đây, nếu chỉ vì lý do đạo đức, họ sẽ không thể làm như vậy.

Ngành năng lượng của Nga phần lớn đã thoát khỏi các trừng phạt. Khi giá cả tăng cao, họ đã được lời cao hơn từ xuất khẩu so với trước chiến tranh. Nhưng cuối cùng, sản lượng năng lượng cũng sẽ suy giảm và ngành năng lượng cũng sẽ cần các phụ tùng thay thế để nâng cấp công nghệ mà chỉ phương Tây mới có thể cung ứng. Các nhà chức trách Nga đã thừa nhận rằng sản lượng dầu của họ đã giảm 7,5% trong tháng 3 và có thể giảm đến mức chưa từng thấy kể từ năm 2003. Việc bán ra năng lượng có thể sẽ trở thành vấn đề, đặc biệt nếu Liên minh Âu Châu có thể tự cắt giảm dầu của Nga và khí đốt (gas).

Putin phủ nhận rằng điều này sẽ xảy ra. Tại cuộc họp thượng đỉnh những người đứng đầu các tập đoàn năng lượng, ông gọi các biện pháp trừng phạt của phương Tây là “hỗn loạn” và khẳng định chúng sẽ gây tổn hại cho các nền kinh tế và người tiêu dùng phương Tây hơn là người Nga vì lạm phát. Ông thậm chí còn nói về “sự tự sát kinh tế” của châu Âu và hứa sẽ đối đầu với các hành động chống Nga của phương Tây. Ông cũng tự thuyết phục bản thân rằng phương Tây không còn gọi là mũi nhọn trong kinh tế toàn cầu nữa, do tính đa cực ngày càng tăng của thế giới. Ông ta không đơn độc; Ngay cả các nhà kinh tế Nga phản đối Putin cũng tin rằng miễn là nền tài chính của đất nước còn tốt, thì phần còn lại của thế giới – bao gồm một số công ty, thương nhân và trung gian phương Tây – sẽ liều mình vi phạm lệnh trừng phạt để làm ăn với Nga.

Li nhun năng lượng gim s không làm suy gim kh năng phc hi ca chế đ Putin.

Nhưng phương Tây dường như đã chuẩn bị sẵn sàng để tiếp tục hành động của mình. Một ngày trước khi Putin kỷ niệm “Ngày Chiến thắng”, các nhà lãnh đạo G-7 đã ra tuyên bố ủng hộ Ukraine, trong đó họ công nhận nước này là đồng minh của phương Tây và cam kết hỗ trợ tài chính, cung cấp vũ khí vững bền, sự tiếp cận thông tin tình báo của NATO, và, nghiêm trọng là tiếp tục áp lực kinh tế lên Nga. Chìa khóa của tuyên bố này thực sự là họ sẽ làm việc để hướng tới “sự cô lập của Nga trong tất cả mọi lĩnh vực của nền kinh tế”. Nó lặp lại những gì Ursula von der Leyen, người đứng đầu Ủy ban Châu Âu, mô tả là các mục tiêu của EU: ngăn chặn các ngân hàng Nga “hoạt động trên toàn thế giới”, để “ngăn chặn hiệu quả xuất khẩu và nhập khẩu của Nga,” và “khiến Ngân hàng Trung ương [của Nga] không thể thanh lý tài sản của mình. ”

Sẽ không dễ dàng để duy trì mức độ thống nhất này, cũng như không dễ dàng để mở rộng áp lực sang nhiều lĩnh vực khác của Nga – chẳng hạn như bằng cách đưa ra lệnh cấm vận của EU đối với dầu và khí đốt của Nga. Một số quốc gia, bao gồm Hungary (thủ tướng Viktor Orban, vẫn là một trong số ít bạn bè của Putin ở châu Âu) cũng như Đức và Ý, nhận thức được rằng lệnh cấm vận năng lượng sẽ giáng một đòn mạnh vào nền kinh tế của chính họ. Và ngay cả khi châu Âu đưa ra lệnh cấm năng lượng, nó sẽ không dẫn đến một cuộc khủng hoảng ngay lập tức ở Nga. Xét cho cùng, Liên Xô đã trải qua sự sụt giảm nghiêm trọng về doanh thu từ dầu mỏ vào cuối những năm 1980, nhưng đó không phải là điều khiến đất nước bị phá sản. Thay vào đó, Gorbachev mất quyền kiểm soát đối với ngân hàng trung ương, đồng rúp và các cơ chế tài chính của đất nước. Miễn là khi nào Putin vẫn giữ quyền lực đối với những tài sản này và tuân theo lời khuyên chuyên nghiệp, thì sự giảm sút sự thu nhập từ năng lượng sẽ không làm hại tính bền vững của chế độ.

Nhưng nếu phương Tây nghiêm túc về việc chặn đứng Putin, thì dù thế nào họ cũng sẽ phải cố gắng duy trì sức ép. Các biện pháp trừng phạt càng kéo dài và gia tăng càng khắc nghiệt, thì việc chống chế độ kinh tế Nga của phương Tây sẽ càng được thực hiện và được nội bộ hóa bởi các tác nhân khác trong nền kinh tế toàn cầu. Các quốc gia và công ty ngoài phương Tây sẽ ngày càng lo ngại hơn về các lệnh trừng phạt kế tiếp. Một số doanh nghiệp thậm chí có thể lo ngại về danh tiếng của họ. Gã viễn thông khổng lồ Trung Quốc Huawei đã đình chỉ các hợp đồng mới với Nga. Các công ty Ấn Độ cho biết sẵn sàng mua dầu của Nga với giá giảm 30% hiện đang chịu áp lực mạnh mẽ phải rút lui.

[Ch người theo thuyết “xác định” cố chấp mi có th tin rng vào năm 1991, không có la chn nào khác thay thế cho s sđ ca Liên Xô.]

Nếu sự trừng phạt tiếp tục kéo dài và trở thành thể chế hóa, phương Tây vẫn có thể thành công đánh bại hệ thống của Putin. Các nhà kinh tế tài năng của Moscow cuối cùng sẽ không thể bảo vệ đất nước Nga khỏi những tác động kinh tế vĩ mô tàn phá. Ngay cả với hàng ngàn tỷ đô la đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng hoặc các biện pháp kích thích khác, nhà nước Nga sẽ không thể vượt qua các tác động ”loại trừ” khi mà chi phí của các dự án này, đặc biệt là với tình trạng tham nhũng đi kèm, tăng vọt. Nếu không có kinh nghiệm của nước ngoài, hiệu quả sản xuất hàng hóa của Nga và chất lượng của chúng sẽ trở lại như thời kỳ đầu thập niên 1990. Ba loại người Nga (nói ở phần trên) phụ thuộc vào chính phủ để có tiền sống sót sau đó sẽ cảm nhận sâu sắc sự yếu kém và sự cô lập ngày càng gia tăng của đất nước mà hiện tại chưa có như vậy. Mọi người thậm chí có thể gặp khó khăn khi tìm kiếm thức ăn cho gia đình. Điều này có thể gây tổn hại nghiêm trọng cho câu chuyện của chính Putin: Ông ta là một lãnh đạo tối cần của một “nước Nga có chủ quyền và vĩ đại” đã vực dậy từ chính chân ông ta và do chính nỗ lực của ông ta.

Về lâu dài, ta có thể hình dung điều này làm suy yếu nghiêm trọng nhà nước Nga. Chủ nghĩa ly khai có thể gia tăng hoặc quay trở lại đến với một số khu vực, chẳng hạn như Chechnya, nếu Điện Kremlin ngừng thanh toán hóa đơn cho cư dân của họ. Căng thẳng nói chung sẽ gia tăng giữa Moscow – nơi tích lũy tiền – và các thành phố và khu vực công nghiệp phụ thuộc vào xuất nhập khẩu. Điều này rất có thể xảy ra ở Đông Siberia và giữa sông Volga, những khu vực sản xuất dầu có thể bị bắt buộc phải góp phần lợi nhuận ngày càng lớn hơn cho Điện Kremlin.

Tuy nhiên, ngay cả một nước Nga yếu hơn nhiều cũng không thể chịu được sự tan rã theo kiểu Liên Xô. Chủ nghĩa ly khai dân tộc gần như không phải là mối đe dọa đối với nước Nga ngày nay, nơi có khoảng 80% công dân nước này coi mình là người dân tộc Nga, giống như đối với Liên Xô. Các công cụ đàn áp mạnh mẽ của Matxcơva có thể bảo đảm rằng chế độ ở Nga không bị lật đổ, hoặc ít nhất là không giống như kiểu thay đổi thể chế diễn ra năm 1991. Và người Nga, ngay cả khi họ chống lại cuộc chiến, có lẽ sẽ không có một cơn thịnh nộ nào khác để phá hủy đất nước của chính họ.

Phương Tây dù sao cũng nên tiếp tục con đường đang đi. Các biện pháp trừng phạt sẽ dần dần rút cạn kho tàng chiến tranh của Nga và, cùng theo đó, là năng lực chiến đấu của nước này. Đối mặt với những thất bại ngày càng gia tăng trên chiến trường, Điện Kremlin có thể đồng ý với một sự ngưng chiến không dễ dàng. Nhưng phương Tây cũng cần thực tế. Ch người nào theo thuyết “xác định” cố chấp (không thể thay đổi) mi có th tin rng vào năm 1991, không có sự la chn nào khác thay thế cho s sp đ ca Liên Xô. Trên thực tế, một con đường hợp lý hơn nhiều cho nhà nước Xô Viết là tiếp tục chủ nghĩa chuyên chế kết hợp với tự do hóa thị trường triệt để và sự thịnh vượng cho các nhóm được lựa chọn — không khác hơn con đường mà Trung Quốc đã thực hiện. Tương tự, việc phương Tây kỳ vọng rằng một nước Nga suy yếu sẽ sụp đổ sẽ là một điều theo thuyết định mệnh (bất di bất dịch, không thể thay đổi). Ít nhất sẽ có một thời kỳ mà Ukraine và phương Tây phải cùng tồn tại với một nhà nước Nga suy yếu và nhục nhã nhưng vẫn chuyên quyền.

Trần M. Vũ phỏng dịch.

Theo Foreign Affairs

https://www.foreignaffairs.com/articles/russian-federation/2022-06-21/can-putin-survive

Xem phần I

One thought on “Từ sự sụp đổ của Liên Xô đến số phận của Putin, điều gì khác biệt? (Phần II)

Add yours

Leave a Reply

WordPress.com.

Up ↑

%d bloggers like this: